Bài viết/Gia đình
Ly hôn với vợ hoặc chồng là người nước ngoài: áp dụng luật nước nào?
Miso Kim Luật sư thành viên2026.09.15Khi hôn nhân quốc tế ngày càng nhiều, các vụ việc ly hôn có vợ hoặc chồng là người nước ngoài cũng liên tục đến với chúng tôi. Nhiều người kể rằng người kia đã về nước và mất liên lạc, hoặc có vẻ ngay từ đầu đã không có ý định sống ở Hàn Quốc. Với những vụ việc này, trước khi xem xét căn cứ ly hôn, có hai điều cần xác nhận: tòa án Hàn Quốc có thể thụ lý vụ việc hay không, và sẽ xét xử theo luật của nước nào.
Tòa án Hàn Quốc có thể thụ lý hay không
Điều 56 Luật Tư pháp Quốc tế (국제사법) quy định các trường hợp tòa án Hàn Quốc có thẩm quyền đối với vụ việc về quan hệ hôn nhân. Đó là các trường hợp như: nơi thường trú (일상거소) của một bên vợ hoặc chồng ở Hàn Quốc và nơi thường trú chung cuối cùng của hai vợ chồng cũng ở Hàn Quốc; nơi thường trú của nguyên đơn và con chưa thành niên ở Hàn Quốc; cả hai vợ chồng đều là công dân Hàn Quốc; công dân Hàn Quốc có nơi thường trú ở Hàn Quốc khởi kiện chỉ nhằm mục đích chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Nếu hai người từng sống chung ở Hàn Quốc rồi người vợ hoặc chồng là người nước ngoài bỏ nhà đi, thì phần lớn trường hợp tòa án Hàn Quốc được công nhận có thẩm quyền. Ngược lại, nếu cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài hoặc cả hai đều là người nước ngoài thì phải xem xét riêng từng vụ.
Thẩm quyền không chỉ ảnh hưởng đến việc ly hôn mà còn đến vấn đề con cái và tài sản. Nếu con đang lớn lên ở Hàn Quốc, tòa án Hàn Quốc có thể đồng thời xác định người có quyền làm cha mẹ (친권자) và người trực tiếp nuôi con (양육자), nhưng nếu tài sản đứng tên người kia ở nước ngoài thì việc thi hành bản án Hàn Quốc đối với tài sản đó có giới hạn. Dù việc ly hôn kết thúc dễ dàng ở Hàn Quốc, thì việc thực sự nhận được phần chia tài sản và tiền cấp dưỡng nuôi con trong nhiều trường hợp vẫn là một nhiệm vụ riêng.
Xét xử theo luật của nước nào
Điều 66 Luật Tư pháp Quốc tế quy định việc ly hôn được xác định theo thứ tự: luật của nước mà hai vợ chồng cùng mang quốc tịch, luật của nơi thường trú chung, luật của nơi có quan hệ mật thiết nhất; đồng thời quy định nếu một bên là công dân Hàn Quốc có nơi thường trú ở Hàn Quốc thì áp dụng luật Hàn Quốc. Vì vậy, nếu bạn là công dân Hàn Quốc sống ở Hàn Quốc thì căn cứ ly hôn cũng được xét theo Điều 840 Bộ luật Dân sự (민법). Chế độ ly hôn ở nước của người kia như thế nào không phải là vấn đề ở giai đoạn này.
Tống đạt và những việc sau khi có bản án
Nếu không biết địa chỉ của người kia, bạn giải trình việc không thể tống đạt theo cách thông thường để tiến hành tống đạt bằng hình thức niêm yết công khai (공시송달). Lần niêm yết công khai đầu tiên có hiệu lực sau 2 tuần, còn niêm yết công khai đối với việc tống đạt ở nước ngoài có hiệu lực sau 2 tháng, và các thời hạn này không thể rút ngắn (Bộ luật Tố tụng Dân sự (민사소송법), Điều 196). Nếu biết địa chỉ ở nước ngoài thì phải qua thủ tục tống đạt ra nước ngoài, có khi mất vài tháng.
- Kiểm tra tên tiếng Anh, ngày sinh, số hộ chiếu của người kia trong giấy tờ đã nộp khi đăng ký kết hôn
- Xác nhận người kia đã xuất cảnh hay chưa bằng yêu cầu tra cứu thông tin xuất nhập cảnh thông qua tòa án
- Lưu giữ hồ sơ trình báo bỏ nhà đi và các tin nhắn đã cố gắng liên lạc
- Nếu ngay từ đầu cuộc hôn nhân chỉ là phương tiện để nhập cảnh, xem xét đồng thời cả hôn nhân vô hiệu (혼인무효)
Ngược lại, nếu đã nhận bản án ly hôn tại tòa án nước ngoài, bản án đó phải đáp ứng các điều kiện công nhận tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì mới được ghi vào sổ đăng ký quan hệ gia đình (가족관계등록부) tại Hàn Quốc. Tòa án xem xét tòa án nước ngoài đó có thẩm quyền xét xử quốc tế hay không, bị đơn có được tống đạt hợp lệ bằng cách khác ngoài niêm yết công khai hoặc đã tham gia tố tụng hay không, bản án có trái thuần phong mỹ tục hay không, và có nguyên tắc có đi có lại (상호보증) hay không. Xin cũng ghi nhớ rằng để ghi nhận việc đã ly hôn tại Hàn Quốc vào hồ sơ hộ tịch của nước người kia, cần thực hiện riêng thủ tục của nước đó.
Bài viết này nhằm cung cấp thông tin chung, không phải là tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Mỗi vụ việc có hoàn cảnh khác nhau, vì vậy bạn nên được tư vấn trực tiếp.
Xem thêm bài viết lĩnh vực Gia đình
Gia đình
2 năm để yêu cầu chia tài sản sau ly hôn: thời hạn không thể kéo dài
Quyền yêu cầu chia tài sản mất đi khi đã quá 2 năm kể từ ngày ly hôn, và thời hạn này không bị gián đoạn hay kéo dài. Bài viết xem xét ý nghĩa của thời hạn loại trừ, rủi ro khi chỉ yêu cầu một phần và hiệu lực của bản cam kết từ bỏ.
Miso Kim Luật sư thành viên2026.05.28Gia đình
Hôn nhân vô hiệu và hủy hôn nhân khác gì với ly hôn?
Nếu ngay từ đầu không có ý định trở thành vợ chồng thì tranh chấp theo hướng hôn nhân vô hiệu, nếu kết hôn vì bị lừa dối hoặc cưỡng ép thì theo hướng hủy hôn nhân. Bài viết so sánh điều kiện, thời hạn và hệ quả đối với con cái và hồ sơ hộ tịch của ba con đường này.
Miso Kim Luật sư thành viên2026.03.31Gia đình
Ly hôn thuận tình: những điều thẩm phán không hỏi
Tại phiên xác nhận ly hôn thuận tình, tòa án chỉ xác nhận ý chí ly hôn và vấn đề con cái. Chia tài sản và tiền bồi thường tổn thất tinh thần nếu không được giải quyết riêng sẽ vẫn bỏ trống sau khi ly hôn.
Miso Kim Luật sư thành viên2026.09.18